DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HOÁ ĐÌNH CHÙA CỐC LIỄN XÃ KIẾN MINH - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

23 03 2026

in trang

Đình - chùa Cốc Liễn là hai công trình văn hoá tín ngưỡng cổ, gắn bó với bao nỗi thăng trầm của cư dân địa phương đã sản sinh ra nó. đình làng Cốc Luễn do nhân dân địa phương xây dựng để tôn thờ vị thần tên hiệu Đông An (tức Chử Đồng Tử), nổi danh trong tâm thức văn hoá dân gian Việt Nam. Truyền sử địa phương cho biết thần Đông An (tức Chử Đồng Tử) sau khi lên núi tầm sư học đạo, đã đi khắp thiên hạ “ Cứu dân độ thế”. Một lần đến trang Minh Liễn (ngày nay là thôn Cốc Liễn) đã cứu mạng cho con trai bà Thị Đa mà không cần trả ơn. Cảm kích trước tấm lòng cao cả của vị thần Đông An, dân làng Cốc Liễn đã lập miếu về sau dựng đình để bốn mùa ghi nhớ tầm lòng cao cả, sẵn sàng giúp đỡ kẻ nghèo khó. Ngôi đình cổ được mang chính tên địa phương dã sản sinh ra bản thân công trình. đình Cốc Liễn, kề với khuôn viên ngôi đình là ngôi chùa thờ phật của dân làng Cốc Liễn mang tên chữ: Minh Quang Tự, hợp thành một tụ điểm sinh hoạt văn hoá tâm linh của người dân địa phương. Khảo sát trong lịch sử địa danh Hải Phòng cho thấy làng Cốc Liễn, xã Minh Tân có tên cũ là Minh Liễn. Trước năm 1945 là xã Cốc Liễn, tổng Sâm Linh, phủ Kiến An. Tên có muộn nhất vào khoảng trước thế kỷ 17. Trước năm 1813 vốn là một xã thuộc tổng Sâm Linh, huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương.

Thôn Cốc Liễn nằm ở ngã ba giữa sông Đa Độ và sông Sàng. Nơi đây có vị trí quân sự quân yếu, nên triều đình nhà Nguyễn đã cho đặt bến thuyền tuần tiễn tại đây, đồng thời đóng phủ lỵ Kiến Thụy (thời gian đầu) ở xã Minh Liễn. Vị tổng đốc tỉnh Hải Dương là Nguyễn Công Trứ đã cho khai khẩn 1200 mẫu ruộng ở Minh Liễn để trồng lúa lấy thóc nuôi quõn. Ngay từ thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, tại phủ Kiến Thụy, lịch sử đã ghi nhận nơi đây là một trong số ít làng xã Hải Phòng nổ ra phong trào Mạc Thiên Binh kháng pháp. Vị tiến sĩ Phạm Duy Du ( quê Thái Bình) là tri phủ Kiến Thụy đã giao phủ thành nghĩa quân, nên bị giặc pháp đầy đi Côn Đảo. Trên địa hình của huyện cổ Nghi Dương (nay kà huyện Kiến Thụy) có nhiều nhánh sông như Cái Giêng, Cái He, sông Sàng, sông Cốc .. đổ ra cửa Họng, cửa úc, cửa Đại bàng. Con đập mang tên Cốc Liễn khởi dựng đầu thế kỷ 20 về sau bị lấp hẳn hiện nay là đoạn đường dốc từ thôn Cốc Liễn xuống thôn Thái Lai (xã Tân Phong). Địa danh thụn Cốc Liễn xã Minh Tân huyện Kiến Thuỵ nay là xã Kiến Minh còn được thấy cùng cảnh quan sông nước môi trường thiên nhiên qua ngòi bỳt của danh nhân vùng duyên hải Phạm Nguyễn Cầu (1805 - 1829)

Nhớ xưa nước biển rộng mênh mông

Cỏ cõy bát ngát rừng xanh mịt mờ

Giữa thì hai cái sông to

Thuyền buồm xuôi ngược thuyền đò chèo ngang

Giêng, he đôi ngả đôi đường

Chảy vào sông Cốc, sông Sàng đôi nơi.

Tổng Sâm Linh có 4 xã thôn là Sâm Linh, Thù Du, Minh Liễn và Thọ Linh, hai thôn: Vũ Vị và thấp Linh đời Đồng Khánh chỉ ghi 4 xã trên, không ghi tên 2 thôn. đời Thành Thái cũng ghi 4 xã nhưng xã Minh Liễn đổi là Cốc Liễn. Xã Minh Tân huyện Kiến Thụy nay là xã Kiến Minh đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân có bề dày lịch sử truyền thống: lao động cần cù sáng tạo và anh dũng chống áp bức cường quyền, có nhiều cống hiến sức người, sức của trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, hiện tại có 6 thôn: Cốc Liễn, Sâm Linh, Thấp Linh, Thụ Linh, Thù Du, Vũ Vị. Đình chùa Cốc Liễn thuộc địa bàn hành chính xã Minh Tân, huyện Kiến Thụy nay là xã Kiến Minh , ngoại thành Hải Phòng. Cụm công trình di tích ở cách trung tâm thành phố 15km về phía đông nam. Từ trung tâm thành phố đi theo đường Lạch Tray, qua Cầu Rào theo đường Phạm Văn Đồng đi Đồ Sơn, hết địa phận xã Anh Dũng theo đường rải nhựa rẽ tay phải theo hướng về thị trấn núi Đối huyện Kiến Thụy thăm đường về UBND xã Minh Tân nay là xã Kiến Minh.

 

Căn cứ theo tài liện soạn năm Bảo Đại thứ 14 (1939) do các cụ già thôn Cốc Liễn sưu tầm tại khu di tích đền Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ, vị thần được dân làng tôn thờ tên gọi Chử Đồng Tử là phò mã vua Huàng Vương thứ 18. Quê Ngài ở huyện Đông An đất Tứ Xuyên, Vĩnh Hoá, tổng Phúc Dương, là Chử cá, mẹ là Nguyễn Thị Mai sinh ra ngài vào ngày 15 tháng 3 âm lịch. Lúc mới sinh ra, mặt mày khôi ngô tuấn tú. Mẹ mất sớm, gia cảnh nghèo khó. Ngày ngày, hai cha con ra bến Chử câu cá, chài lưới kiếm ăn. Đời sống khó khăn nhưng người cha vẫn dạy dỗ còn dùi màu kinh sử. Ngài học rất thông minh, sáng tạo. Ngày 13 tháng 9 cha mất, lòng thương xót khôn ngươi, chôn cất cha chu đáo đoạn tang Ngài vẫn theo nghề cũ, chài lưới để sinh sống qua ngày. Nhân lúc công chua ngủ, thuyền rồng du ngoan qua bến, quân quyền tiền hô hậu ủng, ngài sợ vọi lên bãi, vùi cát ẩn mình. Thấy cảnh nơi đây đẹp, Công chúa cho cấm  binh cùng thị nữ vây màn tắm gội đúng vào nơi Ngài ẩn náu. Đang tắm, Công chúa thấy thân thể Ngài lộ bày, vội nói: “ Người đã cùng ta bày thân thể, đó cũng là duyên số đó sao. Thôi thì chàng vì sau áo, chẳng thà cùng ta kết duyên vợ chồng đó mà”. Lệnh Truyền cho nữ tỳ may nhung y cho Ngài, lại truyền cho trao mũ kết hoa cùng Đồng Tử nên duyên vợ chồng, chưa được lệnh vua cha. Khi biết tin, vua cha cho là nghịch nữ liền ra chiếu trị tội cho đày ra ngoài Chử Châu. Ngày 14 tháng 7 đến Quỳnh Tự viên nơi đày ải. Ngày 14 tháng 2, gặp Đức Bồ tát hiện ra một cụ già văo thăm hỏi biết vợ chồng hàng ngày vẫn nấu sử sôi kinh. Phật Bà hoá phép cho vợ chồng về núi học đạo, phép biến hoá. Phật cho Ngài hạ sơn, cứu dân độ thế với hai bảo vật là nón gậy. Hàng ngày, đi chu du khắp miền và hiển thánh cứu dân, độ thế. Ngài qua huyện Nghi dương trang Minh Liễn, đã cứu sống con trai và Đa, nên được thờ tự đến ngày nay. Đội ơn cứu mạng con mình bà Đa vội mang lễ vật tạ ơn, nhưng Ngài không nhận, hỏi quý danh, Ngài nói là Đông An. Từ đó, ngôi miếu thò long bài đề “ đông An Duệ hiệu” có từ đó. Thế kỷ XVI, nhân lúc vua Lê Vĩnh Tộ đem binh ra miền Hải Đông tiễu trừ giặc dã. Thế giặc mạnh, quân triều đình phải lui quân, đến trang Minh Liễn, thấy nhiều người lễ bái, hỏi thăm mới biết là miếu thiêng, nhà Vua vào lễ cầu, bỗng nổi lên một trận cuồng phong làm cho quân giặc khiếp vía bỏ chạy. Nhà vua thừa thế đánh tan quân giặc. Vua Lê Vĩnh Tộ xuống chiếu thưởng công, ban phong mỹ tự: “ Thắng, chí đức thái bình, thần vũ trung chính hoàng nghị niền vình kình thiên vĩ Đại Đại Vương. Trang Minh Liễn phụng thờ từ khi có sắc phong dân làng rước sắc phòng cùng bài vị về xây đình trung tâm làng phụng thờ. Sắc phong của vua Lê Vĩnh Tộ (năm thứ 6 - 1625). Từ ngày xây đình làng cầu cúng Ngài rất linh ứng, cầu sau vậy, gặp năm đại hạn, cầu đảo được mưa rào. Cả tổng Sâm Linh lúc bấy giờ tôn Ngài là: “ Đức thánh Cả thượng đẳng tối linh”.

Quá trình tồn tại của nơi thờ Thành hoàng Đông An tại thôn Cốc Liễn, dân làng còn bảo lưu toàn vẹn 20 bản sắc phong qua triều đại (1) bản đầu tiên từ trièu Lê  Vĩnh Tộ thứ 6 đến bản cuối cùng (đời Nguyễn Khải Định năm thứ 9 – 1929). Tóm lại: Đình làng Cốc Liễn thuộc xã Minh Tân huyện Kiến Thuỵ nay là xã Kiến Minh  tôn thờ thần Đông An tức Chử Đồng tử một nhân vật lịch sử nổi tiếng thời Hùng Vương thứ 18 làm Thành Hoàng, qua truyền tích giúp dân trị bệnh hiểm nghèo. Truyền thuyết  văn hoá dân gian Viêt Nam đã từng tôn vinh nhân vật lịch sử, Chử đồng tử vào hàng 4 vị thần linh tối thượng “ Tứ Bất tử”. Hiện tại vẫn chưa tìm được tài liệu chính xác thời gian xây dựng ngôi đình Cốc Liễn xưa kia, mặt khác di tích hiện nay do gặp nhiều sự thăng trầm của lịch sử chiến tranh, thiên tai bão tố đã được nhiều lần tu tạo, dấu ấn niên đại khởi dựng không còn gì. Khuôn viên và công trình di tích hiện nay đưụơc dân làng phục dựng lại trên nền đất cũ bên cạnh ngôi chùa Minh Quang tạo thành cụm công trình kiến trúc rôn giáo cổ truyền của địa phương.

Bố cục mặt bằng kiến trúc của cụm di tích đình chùa Cốc Liễn khá gọn gàng qua sự phối hợp kỹ thuật xây cất vật liệu truyền thống như gặch đá, ngói cổ, hoàng rui với các loại vật liệu mói mang dấu ấn thế kỷ 20 như: Bê tông, sắt thép, góp phần trả lại phần nào dáng vóc của công trình trong sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân địa phương. Đình và chùa được bố trí song hành. Mặt chính của hai công trình kiến trúc cùng quay về hướng nam. Ngôi đình kết cấu hình chữ dinh (J) có 5 gian tiền đường và hai gian hậu cung. Vì nóc cột cái, cột quân được tạo bởi sự phối hợp giữa vật liệu cổ truyền ngói, gỗ với kỹ thuật bê tông hoá tạo nên dáng vẻ ngôi đình khá chắc chắn, tiện lợi tróngử dụng và không xã dời lối trang trí, kiến trúc truyền thống Việt Nam. Ngôi chùa Minh Quang cũng được bố cục theo lối chữ đinh gồm 3 gian đường và hai gian hậu cung. Vì nóc bái đường của ngôi đình đựơc làm theo lối vì bán mê có 3 hàng chân ( trốn cột cái phía trước của vì) để tạo ra sự thoáng đãng, rộng rãi cho lòng nhà. Cấu trúc vì nóc chùa Cốc Liễn tương tự như toà tiền đường của ngôi đình làng. Công trình kiến trúc đình - chùa Cốc Liễn tương tự như toà tiền đường của ngôi đình làng. Công trình kiến trúc đình chùa Cốc Liễn khá chắc do có sự chăm lo, tu bổ thường xuyên của nhân dân.

Cụm di tích và chùa Cốc Liễn còn bảo lưu được một số đồ thờ tự bằng gỗ sơn son, tượng phật có giá trị nghệ thuật và niên đại lịch sử của đầu thế kỷ 18. Đình Cốc Liễn: Lưu giữ các đồ thờ như: Long đình, bát biểu, hương án tiền, cuối thư, quán tẩy số, đặc biệt nhất đình Cốc Liễn còn giữ được bộ sưu tập sắc phong của các đời vua phong kiến Việt Nam từ nửa đầu thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20. Bắt đầu từ đời Lê Vinh Tộ 6 đến Nguyễn Khải Định năm thứ 9, tổng cộng 20 bản sắc. Chùa Cốc Liễn còn bảo vệ được 7 pho tượng Phật như: Pho A Di Đà, QUan Âm Tống Tử, Ngọc Hoàng thượng đế, Đức Ông, tượng Mẫu, có niên đại nghệ thuật Hậu Lê đầu thế kỷ 18 bổ sung cho giá trị của cụm di tích.

Di tích đình - chùa Cốc Liễn thuộc loại hình: Di tích lịch sử văn hoá. Cụm di tích đình - chùa Cốc Liễn là nơi bảo lưu nét sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng cổ truyền của nhân dân địa phương. Đây là một di tích lịch sử quý giá, góp phần nghiên cứu sự hình thành vùng đất Hải Phòng trong quá khứ và con đường nhu nhập đạo Phật vào nước ta qua biển Đông - Duyên hải Bắc Bộ. Di tích còn là sự minh chứng sinh động về sự lan toả của thời đại Hùng Vương ở phần đất Hải Phòng hiện nay. Cảnh quan rộng rãi của khu vực di tích hiện nay rất thuận tiện về giao thông giữa địa phương và các đơn vị bạn tạo thành hệ thống công trình di sản văn hoá lộ trình du lịch văn hoá của huyện Kiến Thụy và thành phố Hải Phòng.

Theo ghi nhớ của dân làng, ngày lễ hàng năm tại di tích theo âm lịch Ngày 1-1, ngày 10-1, ngày 10-2, ngày 5-5, ngày 15-8. Hiện nay để phù hợp với điều kiện sinh hoạt và sản xuất theo quy định của cơ quan chính quyền. Ngày hội làng được toàn thể nhân dân và chính quyền cơ sở định tổ chức vào ngày 15 - 3 âm lịch, kỷ niệm ngày sinh vị thần Đông An. Nghi lễ trọng thể được dân làng tổ chức ngay tại khuôn viên đình chùa thôn Cốc Liễn, có tế lễ, đang hương trong thể của các thành viên làng xóm trước khi diễn ra các trò vui chơi bách hỷ của trai thanh gái lịch địa phương và các làng xóm lân cận. Các tiết mục diện xướng, hát đối nam nữ, vật cầu, cờ tướng, thi đấu mang tính dân gian vẫn được duy trì trong các kỳ lễ hội, đồng thời có tác dụng tăng thêm đoàn kết thân ái trong quê hương, làng xóm giữa các thành viên. Căn cứ vào những giá trị lịch sử văn hoá hiện tồn tại di tích xã Minh Tân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng nay là xã Kiến Minh được UBND thành phố Hải Phòng công nhận cụm di tích đình - chùa Cốc Liễn xã Kiến Minh là di tích lịch sử văn hoá của thành phố Hải Phòng năm 2006.

Admin

Thong ke