DI TÍCH LỊCH SỬ ĐÌNH SÂM LINH, XÃ KIẾN MINH, TP HẢI PHÒNG

23 03 2026

in trang

Qua khảo sát thực địa, nghiên cứu các tư liệu còn lưu giữ được và phỏng vấn các cụ cao liên trong làng, bước đầu bảo tàng Hải Phòng cơ sở bộ đánh giá về nguồn gốc hình thành, giá trị của đình Sâm Linh, nhân vật được thờ và các giá trị di sản liên quan đến đình Sâm Ninh xã Minh Tân, huyện Kiến Thụy như sau.

Sâm Linh là một làng thuộc tổng Sâm Linh phú Kiến Thụy, tỉnh Kiến An nay thuộc xã Minh Tân, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Là một làng lớn, gồm ba thôn, chiều dài dọc tỉnh lộ 362 từ phường Hòa Nghĩa đến đường Hồ Sen thị trấn Núi Đối. Số hộ gia đình 989, số khẩu trong làng là 2915. Làng Xuân Linh có bề dày về truyền thống văn hóa, lịch sử cách đây trên 200 năm vào triều Nguyễn. Xưa làng có một ngôi đình lớn cùng ngôi chùa Hưng Khánh, ngôi nhà thờ xây dựng năm 1938 và 1 ngôi miếu cổ. Trải qua thăng trầm lịch sử trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp, nhất là năm 1946 Pháp dùng những lời công cộng như đình, chùa làm cơ sở chỉ huy thực hiện lời kêu gọi của ủy ban kháng chiến, đình Xuân Ninh được tháo dỡ, chỉ để lại ba gian hậu cung. Chùa, miếu cũng được dỡ bỏ, nhân dân đồng lòng rào làng chiến đấu. Sau hòa bình đập lại. Cho đến nay, chùa làng đã được khôi phục cùng ngôi nhà thờ vào năm 2007 phần đất của ngôi miếu này được làm nghĩa trang cho tám dòng họ làng. Riêng đình làng đến nay chỉ còn khuôn viên chừng 1000 mét vuông và một cây gạo cổ thụ.

Đình Sâm Linh tích lịch đại vương, theo bản thần tích thần sắc làng Sâm Linh tổng Sâm Linh, phủ Kiến Thụy, tỉnh Kiến An, ký hiệu quyển số tê tê tê ét 11178 do viện thông tin khoa học xã hội cung cấp cho biết,"có một ngày vào lúc giữa trưa, tự nhiên thấy trời đất u ám lại một lúc quang đãng như thường thì trên trời sa xuống một vuông lụa đào như dân làng vội mang chống phách ra rước về miếu xem. Trong vuông lụa có chữ tích lịch đại vương. (Thần sét) thời dân cứ theo tên ấy mà thờ cúng từ trước đến giờ". Thành tích lịch đại vương được thờ ở miếu quanh năm, khi có sử lệ cúng tế thì rước ngài về lễ. Việc thờ tại đình miếu chỉ thờ bằng lòng ngai, bài vị, mũ hổ, hài dạ, không có thần tượng, kiếm hốt. Tích lịch đại vương được các triều đại phong kiến sắc phong làm thành hoàng. Làng Sâm Linh trải qua hàng 100 năm biến đổi của lịch sử, các bản sắc không còn. Bản khai của lý trường Vũ Trường Vũ Văn Linh cho biết làng Sâm Linh còn sao chép lại được một nội dung bốn bản sắc các triều vua thời Nguyễn, bao gồm: Sắc thời tử đức ba ta 331879 phong cho thành hoàng làng Sâm Linh là tích lịch chi thần; Sắc đời đồng khánh thứ 2 năm 1886 phong cho thành hoàng làng là lẫm liệt, uy nghiêm, hùng mãnh, thuần trích chính tích lịch chi thần; Sắc đời duy tân thứ 3 năm 100009 phong cho thành hoàng làng là lẫm liệt, uy nghiêm, hùng mãnh, thuần chính dực bảo trung hưng tích lịch chi thần; Sắc  đời Khải Định thứ 9 1 1000 924 phong cho thành hoàng làng là lẫm liệt, uy nghiêm, hùng mãnh, thuần chính dực bảo trung hưng tích lịch tôn thần.

Ở Hải Phòng, một số thôn làng cũng thờ thần xét như thôn Trại kênh xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên thờ tích lịch Khảo Quang thôn Phúc Lộc, xã Hưng Đạo, huyện Kiến Thụy nay thuộc quận Dương Kinh thờ tích lịch tôn thần ngay ở thôn Vũ Vị làng Thọ Linh tổng Sâm Linh cũng là thờ tích lịch thôn thần. Việc hai tôn thờ cùng thờ, hai thôn cùng thờ liên quan đến truyền thuyết giải lụa hồng bay về rơi xuống địa danh giáp hai thôn. Thôn Vũ Vị tổ chức về đình mang chiêng trống, lòng ô ra giấc. Bức lụa xong, các cụ thôn Sâm Linh nhanh hơn giục lỏng cây khoai nước, chiêng trống bằng mồm ra rước về làng. Việc thờ thần tích lịch đại vương thần xét có liên quan mật thiết với cây lúa nước tới việc thờ tứ pháp pháp Vân Pháp, Vũ Pháp, lôi pháp điện những vị thần cổ xưa có nguồn gốc bản địa Thuần Việt. Hiện tượng thờ tứ pháp rất phổ biến của dân cư Việt cổ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Người Việt thờ các quý vị thần này cầu mong cho âm dương hòa hợp, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, nhân khang vật thịnh. Căn cứ các bản sắc phong còn lại được ghi chép lại thì muộn nhất vào thời tự đức ba ba một tám bảy chín đình sâm linh đã tồn tại với vai trò là nơi thờ thành hoàng làng tích lịch đại vương, trải qua hàng trăm năm với các cuộc chiến tranh vệ quốc đình bị hủy hoại nên không rõ cấu trúc, quy mô ngôi đình cổ của làng Sâm Linh, tuy nhiên, theo khảo sát, điền đã giã kết hợp với các tư liệu trong bản thuần tích thuần sắc và bản hương ước của tục lệ làng sâm linh chúng ta góp phần vào hình dung được về ngôi trường sâm linh.

Đình được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ mười chín với cấu trúc chữ đình gồm tiền tế, năm gian hậu cung, ba gian, hệ thống chịu lực bằng gỗ lim với tám cột cái tạo thành bốn bộ vị vi theo kiểu thuận trồng năm con, ba gian cửa chính bằng gỗGỗ lim, thùng khung khách ngưỡng, cửa bằng đá xanh như truyền thuyết kéo dài từ núi voi về.Tòa tiền tế được thiết kế kiểu chéo đao tàu mái với bốn góc đao cong kiểu rồng chậu phượng đón tạo cho ngôi đình thanh thoát, bay bổng trong lòng đình. Trên các bộ vị ván gió, ván long, các bức cố ở vì lách chạm khắc tứ linh, tứ quý, hoa lá thiêng rất tinh xảo, mang phong cách nghệ thuật đặc trưng thời Nguyễn. Trong hậu cung thâm nghiêm, nơi đặt thờ long ngai, bài vị, mũ hia của thành hoàng làng. Gian giữa tòa tiền tế đặt ban công đồng, hai bên có bắt biếu mỗi bên có sáu cây, phía trên là cửa võng, nay bộ bát biểu và cửa võng đang gửi ở dưới chùa, níu giữ một long đình nước thần nay đã hỏng bên cả. Bên hữu tòa tiền tế đặt hai phản gỗ lim, xung quanh dựng một con tiện, mỗi bên năm giải, năm chiếu, dùng cho các vị chức sắc ngồi bàn việc công của làng hay trong các ngày dự lễ, lễ hội của làng. Hương ước và tục lệ của làng cho biết trong đình có hai bản phán gọi là tà bàn và hữu bàn, mỗi bàn chia làm năm chiếu, chiếu nhất bên tả là quán quan trưởng chánh tổng, chiếu nhì là cánh phó tổng suất đội, chiếu ba là chánh, phó lý chánh, phó hội còn 1.4 triệu và năm đàn em chiếu nhất bên hữu lão nhiêu, chiếu nhì, chiếu ba thư ký trường bạ, trương tuần quản lộ hương mục vệ binh, chiếu tư, chiếu năm đàn em.

Qua nghiên cứu hương ước về tục lệ, làng Sâm Linh cho biết các ngày lễ sự của làng như sau: Ngày lễ đầu năm mùng 4 tháng giêng, mỗi nhà trong làng tu sửa một lễ mang gia đình thánh, lễ thánh. Xong phần lễ làng tổ chức đánh vật đi cầu thù, mỡ áo đình, bắn vịt dưới ao vv… Ngày mồng 1 tháng 2 có lễ hậu thần, hậu phật. Ngày mùng 10 tháng 2 và ngày 15 tháng chạp có lễ tế đức tích lịch tôn thầnTrong ngày hội có rước long đình bát hương từ miếu về đình tế thần. Ngày nay cắt giáp dâng lợn xôi để kính tế. Khi tế xong, lợn xôi của giáp nào đem về giáp ấy chia đều cho mọi người cùng hưởng. Sau phần nghi lễ, nàng có mời các chiếu chèo ở khắp nơi về biểu diễn, mời các xới vật trong xã, ngoài huyện Như An lão, Tiên Lãng về tham dự thi đi cầu thùm kéo co. Ngoài ra, dòng họ trong làng mang cỗ đến đình và thi cỗ. Hội diễn ra trong ba ngày. Đặc biệt, vào những năm hạn hán, dân làng có hội rước long đình cầu phong đảo vũ cúng thần rất linh ứng. Trời ban mưa lớn.

Như vậy, Sâm Linh có nguồn gốc hình thành vào đầu thế kỷ 19, có giá trị về lịch sử, văn hóa, hiện còn lưu giữ được một số cổ vật triều Nguyễn. Nhân vật được thờ tại đình Sâm Linh là thần xét có tiểu sử rõ ràng, gắn với sản xuất nông nghiệp. Đó là tín ngưỡng thờ tứ pháp pháp Vân Pháp Vũ Pháp lôi, pháp điện người dân trồng lúa nước nói chung, dân làng Sâm Linh nói riêng luôn ước vọng cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Với những giá trị về di sản đã trình bày ở trên, đình Sâm Linh xã Minh Tân, huyện Kiến Thụy,thành phố Hải Phòng nay là xã Kiến Minh được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố năm 2024.

Admin

Thong ke